Tin tức

Hóa học đối với phẫu thuật

Kể từ năm 1997, các công ty mỹ phẩm đã bị bắt buộc theo luật định là phải liệt kê thành phần trong các sản phẩm của họ. Nhưng bạn phải có trình độ về tiếng Latin và về dược học để hiểu chúng, vì chúng thường sử dụng một thứ “ngôn ngữ châu u” Latinh hóa cầu kỳ. Điều này không chỉ làm nhòe đi sự khác biệt giữa các thành phần tự nhiên và thành phần tồng hợp mà còn không chuyển tải điều gì về nguồn gốc và tác dụng của các hóa chất có trong sản phẩm.
Hãy cẩn thận khi thấy các bảng liệt kê hay các tên thành phần dài. Một bác sĩ chuyên khoa da hàng đầu cảnh báo rằng nếu một sản phẩm nó là có chứa nhiều hơn ba thành phần hoạt chất, thì sản phẩm đó không thể đúng như lời khẳng định; các sản phẩm khác mà bạn không thể phát âm được tên của các thành phần, thì đáng nghi là chúng có thể cũng gây ra cho bạn nhiều tác hại.
Có hơn 3000 hóa chất được cho phép sử dụng trong các sản phẩm mỹ phẩm ở châu u. Nhiều loại là chất làm giảm đau, một số loại khác thì không phải. Hãy thận trọng với những thứ sau đây:
Propylene glycol: một chất lỏng màu trong được thiết kế để chuyển độ ẩm, là một tác nhân gây dị ứng da rất thường gặp.
Sodium lauryl sulphate: là một tác nhân tẩy, nhũ tương hóa và làm ẩm. Thường làm khô da và là một chất gây kích ứng thường gặp vì nó ăn thủng các protein của da.
Deathanolamine (DEA) và triethanolamine (TEA): là các tác nhân làm ẩm, có thể tạo thành các nitrosamine, là những tác nhân có tiềm tàng khả năng gây ung thư; và form-aldehyde, tuy không phải là một tác nhân gây dị ứng cao nhưng có thể gây đột biến gen trên động vật và đã bị cấm ở Nhật Bản và Thụy Điển. Các hóa chất khác như 2-bromo 2-nitropropal 1,3 diol (thường được gọi là bronopol) có thể có tác dụng tương tự.
Các Paraben hay perabenz: là một chất bảo quản được sử dụng đến 1/3 trong các mỹ phẩm, vì bị nghi ngờ là tiềm tàng khả năng gây ung thư nên đã bị cấm ở Nhật Bản. Các paraben được tìm thấy trong tự nhiên nhưng hầu hết các nhà sản xuất dùng các dạng tổng hợ được gọi là butyl, ethyl methyl hay propyl paraben.
Các parahydroxy benzoate: là các tác nhân bảo quản hay chống nấm gây ra các phản ứng dị ứng và do vậy đã có đề nghị cấm ở Mỹ.
Imidazolidinyl urea (còn gọi là hydantoin): được sử dụng để tổng hợp các chất bôi trơn, là dẫn xuất từ cồn gỗ, có thể gây ra buồn nôn và là tác nhân gây ung thư trên động vật, từ chất này cũng có thể sản xuất ra formaldehyd.
Acid stearic: một chất béo dạng rắn như sáp được sử dụng trong các kem bôi da. Thường xuyên gây ra sự mẫn cảm.
Lanolin: là sản phẩm từ lông cừu, có thể có chứa các thuốc trừ sâu gây ung thư, những chất này có thê được chuyển vào dòng máu vì lanolin tan rong chất béo.
Quternium 15: là một nguyên nhân thường gặp gây ra viêm da tiếp xúc ở những người mẫn cảm hóa chất.
Acid boric: là một chất diệt khuẩn và diệt nấm được sử dụng trong các sản phẩm làm mát da, có thể gây ra phản ứng ngộ độc. Bột đá tan có chứa acid boric có dán nhãn cảnh báo không được dùng cho trẻ dưới 3 tuổi.
Alcohol benzyl: là một chất bảo quản thường gặp trong các loại kem. Thường gây ra sự quá mẫn cảm.
Butylated hydroxy anisole (Bha) và Butylated hydroxy tolu-ene (Bht): là những chất chống oxy hóa thường được dùng và có thể gây ra sự quá mẫn cảm nếu dùng thường xuyên.
Xanh da trời 1 và xanh lá cây 3: là các chất màu nhân tạo, cả hai đều là tác nhân gây ung thư.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *